Trang nội bộ
    Tên đăng nhập
   Mật khẩu
      
Thống kê
Đang trực tuyến:954
Lượt truy cập:2269354
Quảng cáo



       Nghiên cứu trao đổi
Chất lượng nhân lực tài chính ngân hàng trong bối cảnh hội nhập  CẬP NHẬP: 18:28:29   (03/11/2016)
Cách đây 10 năm, khi nhắc đến tài chính ngân hàng hầu hết đều nghĩ đến một ngành “hot” thu hút hàng chục ngàn sinh viên mỗi năm và cũng ngần ấy nguồn nhân lực được đào tạo ra hàng năm để đáp ứng sự mở rộng và phát triển của những ngành như tài chính, ngân hàng, chứng khoán... Nhưng đến thời điểm cách đây khoảng 5 năm, dường như xu hướng này đang dần thay đổi và ngày càng thay đổi với tác động của sự hội nhập sâu rộng trong nền kinh tế Việt Nam.

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, vì vậy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển của đất nước nói chung các ngành, các lĩnh vực, trong đó có ngành tài chính-ngân hàng nói riêng. Hiện nay, ngành tài chính-ngân hàng Việt Nam vẫn chưa bắt kịp sự phát triển của ngành tài chính-ngân hàng trên thế giới, bởi còn thiếu kiến thức chuyên môn ở tầm quốc tế, đặc biệt là những kỹ năng thực tiễn; đây là một trong những thách thức rất lớn trong công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành tài chính-ngân hàng. Vì vậy, cần đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ngành tài chính-ngân hàng trong giai đoạn vừa qua, tìm ra nguyên nhân để có những giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành này trong thời gian tới.

Đào tạo nguồn nhân lực ngành Tài chính-ngân hàng, lỗ hổng giữa đào tạo và thực tế

Hiện Việt Nam có khoảng 248 trường đại học, học viện, cao đẳng (công lập, dân lập) đào tạo chuyên ngành tài chính-ngân hàng, chiếm trên 55% tổng số trường đại học, học viện, cao đẳng trong cả nước. Trong đó, nhiều trường như Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Ngoại thương, Học viện Ngân hàng, Học viện Tài chính... đào tạo ngành tài chính-ngân hàng có uy tín trong nước và một số nước lân cận. Điểm xét tuyển đại học ngành tài chính-ngân hàng (tổ hợp A0, A1) của một số trường đại học và học viện năm 2014, 2015, 2016 như sau (Hình 1):       

 
Hình 1: Điểm xét tuyển đại học ngành TC-NH (tổ hợp A0, A1) năm 2014, 2015, 2016 (nguồn http://diemthi.tuyensinh247.com) 

Trường Đại học Kinh tế quốc dân (ĐH KTQD) điểm xét tuyển đại học ngành tài chính-ngân hàng luôn cao nhất so với các trường khác, năm 2015 là 25,25; năm 2016 là 24,03. Học vin Tài chính (HVTC) và Học viện Ngân hàng (HVNH) năm 2015 điểm xét tuyển đại học ngành tài chính-ngân hàng bằng nhau là 22,5; năm 2014 và 2016 hai Học viện này xét tuyển từ 19-21,36. Một số trường Đại học Tài chính -Marketing (ĐH TCMKT), Học viên Chính sách và phát triển (HV CS&PT), Đại Học Kinh tế-Đại Học Đà Nẵng (ĐH KTĐH ĐN), Đại học Tôn Đức Thắng (ĐH TĐT), năm 2015 điểm xét tuyển đại học ngành tài chính-ngân hàng từ 20-21,75; năm 2014 và 2016 từ 17-20,5. Các trường Đại học Tài chính-Kế toán (ĐH TC-KT), Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (ĐH KD&CNHN), Đại Học Dân Lập Văn Lang (ĐH DLVL), Đại Học Tài chính ngân hàng Hà Nội (ĐH TCNHHN), xét tuyển ngành tài chính-ngân hàng từ 13-15 điểm, xấp xỉ điểm sàn hàng năm của Bộ Giáo dục và đào tạo. Điểm sàn xét tuyển đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2014 có 3 mức, điểm thấp nhất là 13 điểm; năm 2015 là 15 điểm; năm 2016 là 15 điểm (chung cho tất cả các tổ hợp môn) [13].

So với một số ngành khác, điểm xét tuyển đại học ngành tài chính-ngân hàng luôn cao hơn, nhất là ở trường có uy tín. Sinh viên ngành tài chính-ngân hàng sau khi tốt nghiệp có thể đảm nhận được những vị trí nghề nghiệp khá hấp dẫn ở các cơ quan ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, cơ quan quản lý nhà nước về tài chính ngân hàng, các loại hình doanh nghiệp, tổ chức tài chính; cục thuế, hải quan, kho bạc nhà nước, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ tín dụng hoặc làm nhân viên kinh doanh của các công ty; Công ty kiểm toán, quỹ đầu tư, công ty kinh doanh bất động sản, công ty chứng khoán hoặc công tác tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp… Chính vì vậy, hàng năm số lượng thí sinh đăng ký thi đại học vào ngành tài chính-ngân hàng khá đông, một phần do đây là một ngành học khá rộng, một phần cơ hội đi làm có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, trước số lượng thí sinh dự thi đông và là ngành có nhiều trường đào tạo nhất; câu hỏi đặt ra là liệu việc đổ sô vào học ngành tài chính-ngân hàng, có dẫn đến dư thừa nguồn nhân lực ngành tài chính-ngân hàng không? Chất lượng đào tạo của các trường đại học, học viện có đồng đều không? 

Kết quả khảo sát của Viện Nhân lực ngân hàng tài chính (BTCI) và Tập đoàn HayGroup cho thấy, lượng sinh viên ra trường ngành tài chính-ngân hàng năm 2012-2013 vào khoảng 29.000-32.000 người và đến năm 2016 lượng sinh viên ra trường có thể tăng đến hoảng 61.000 người; số sinh viên được tuyển chọn chỉ khoảng 15.000- 20.000 người [10]. Bản tin thị trường lao động quý 3/2015 do Viện Khoa học Lao động và Xã hội công bố ngày 30/10/2015, tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ cao đẳng, đại học tiếp tục tăng; ngành tài chính ngân hàng, khoảng 12.000 tân cử nhân thất nghiệp trong tổng số khoảng 29.000 tân cử nhân của ngành này [12]. Mặc dù nguồn nhân lực tài chính ngân hàng dồi dào, nhưng các nhà tuyển dụng của hệ thống ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại vẫn cho rằng rất khó tuyển dụng nhân viên, nhất là 3 vị trí quản trị rủi ro, quản lý và đầu tư và hiện nay một số ngân hàng vẫn đang phải thuê các chuyên gia nước ngoài để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình. Nhiều nhà lãnh đạo, quản lý lĩnh vực này cho rằng, nguồn nhân lực ngành tài chính-ngân hàng trong thời gian qua chất lượng vẫn còn thấp, nhất là lực lượng lao động chất lượng cao. Đại đa số sinh viên sau khi tốt nghiệp đi làm tại các ngân hàng còn “hổng” cả về kỹ năng, thái độ làm việc, kỹ năng làm việc với mọi người, trình độ tiếng Anh, khả năng giao tiếp và kiến thức, đặc biệt là các kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Một trong những nguyên nhân chính của “lỗ hổng” là do tâm lý chạy theo số đông của các trường, sự chênh lệch điểm xét tuyển giữa các trường khá cao; một số trường chất lượng đào tạo ngành này chưa được đảm bảo, chương trình đào tạo còn nặng tính lý thuyết, chưa cập nhật kịp thời những thay đổi của nền kinh tế và quan trọng là hiệu quả thực tập, cọ xát thực tế cho sinh viên trước khi ra trường.  

Mặt khác, ngay nguồn nhân lực hiện tại của ngành ngân hàng cũng làm chúng ta phải suy ngẫm. Theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Ngân hàng giai đoạn 2011-2020: Về cơ cấu, nhân lực trong ngành ngân hàng có độ tuổi từ 30-50 chiếm 35,05%; độ tuổi trên 50 trở lên chiếm tỷ lệ 4,26%. Chất lượng nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành và nền kinh tế, chưa thể đảm bảo cho sự phát triển ổn định, vững chắc trong quá trình hội nhập quốc tế về lĩnh vực tài chính-ngân hàng; tính chuyên nghiệp của nhân lực tại một số vị trí công việc ở nhiều ngân hàng chưa cao; kiến thức về kinh tế, chuyên môn ngân hàng và kiến thức bổ trợ của một bộ phận không nhỏ cần phải đào tạo. Ngân hàng Nhà nước thiếu đội ngũ chuyên gia kinh tế, quản lý vĩ mô với yêu cầu sở hữu năng lực nghiên cứu, dự báo, xây dựng chiến lược, định hướng phát triển hệ thống ngân hàng, tái cơ cấu ngân hàng, xây dựng chính sách vĩ mô về tiền tệ ngân hàng, thanh tra giám sát an toàn hệ thống và thanh toán. Các tổ chức tín dụng thiếu đội ngũ quản trị điều hành (cán bộ quản lý, lãnh đạo) có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích, tổng hợp, am hiểu luật pháp và linh hoạt, độc lập xử lý các vấn đề của thực tế và thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn cao về quản trị ngân hàng hiện đại, phân tích tài chính, kiểm soát, kiểm toán nội bộ, phân tích và thẩm định dự án đầu tư, quản trị rủi ro… Ngành ngân hàng cũng xác định nguyên nhân của những hạn chế trên do thiếu công cụ mang tính hữu ích, chuẩn mực để sử dụng và đo lường các hoạt động quản trị nhân sự trong ngành. Các chính sách nhân sự (chính sách đãi ngộ, tuyển dụng, đào tạo phát triển, sử dụng người tài, khen thưởng…) chưa đầy đủ hoặc chưa thật phù hợp. Đặc biệt, chất lượng đào tạo, sản phẩm đầu ra của các cơ sở đào tạo ngành ngân hàng-tài chính có sự khác biệt nhau khá lớn,…[1]

Như vậy, để có nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng chất lượng cao, vấn đề đặt ra không chỉ riêng đối với nguồn nhân lực mới (đội ngũ sinh viên ngành tài chính - ngân hàng mới ra trường) mà ngay cả nguồn nhân lực hiện tại đang làm việc trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng.

Biến động về nhân lực, thách thức và những cơ hội

Theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Tài chính giai đoạn 2011-2020” của Bộ Tài chính, tổng số nhân lực toàn ngành Tài chính năm 2015 khoảng 4,5 triệu người, (tăng so với năm 2010 hơn 1 triệu người), đến năm 2020 dự kiến 5,7 triệu người, tăng thêm 1,2 triệu người so với năm 2015 [2] và “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Ngân hàng giai đoạn 2011-2020” của Ngân hàng Nhà nước, tổng số nhân lực làm việc trong ngành ngân hàng năm 2015 khoảng 240 nghìn người, đến năm 2020 khoảng 300 nghìn người. Hàng năm hệ thống ngân hàng tuyển tăng thêm nhân lực mới từ nguồn sinh viên, học sinh các trường khá lớn: Giai đoạn 2011-2015 bình quân tuyển mới hàng năm khoảng 12.500 người, trong đó đại học và cao đẳng khoảng 10.500 người, trung cấp khoảng 1.200 người, còn lại là chưa qua đào tạo; Giai đoạn 2016-2020 dự kiến bình quân tuyển mới hàng năm khoảng 12.000 người, trong đó đại học và cao đẳng khoảng 10.000 người, trung cấp khoảng 1.200 người, còn lại là chưa qua đào tạo [1].

Tuy nhiên, do tác động của khủng hoảng kinh tế kéo dài, việc tái cơ cấu kinh tế nói chung và tái cơ cấu ngân hàng, đã đặt ra vấn đề về nhân sự và sàng lọc nhân viên ngân hàng trở thành tiêu chí hàng đầu. Theo Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), 6 tháng đầu năm 2014, số nhân viên tại ngân hàng này giảm 77 người so với đầu năm. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) có số lượng nhân sự giảm 143 người so với cuối năm 2013, trước đó vào quý 3/2013, ngân hàng này cũng đã cắt giảm 134 người. Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank), đến tháng 6/2014 giảm 383 người so với đầu năm. Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) cũng giảm 379 người. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội (SHB), trong 6 tháng 2014 cắt giảm 666 nhân viên [6]… Việc cắt giảm nhân sự của các ngân hàng thời gian qua đã có những tác động nhất định đến xu hướng chọn ngành nghề của học sinh, số sinh viên đăng ký theo học ngành tài chính-ngân hàng tại một số trường đại học lớn đã giảm khoảng 20%, vì số lượng sinh viên ngành tài chính-ngân hàng thất nghiệp hoặc làm không đúng ngành nghề đào tạo khá cao, tạo tâm lý sợ ra trường không xin được việc làm. Bản thân các trường cũng linh hoạt giảm chỉ tiêu tuyển sinh chuyên ngành tài chính-ngân hàng cho phù hợp thực tế. Bên cạnh đó, triển khai Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế, các bộ, ban, ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị - xã hội, phải tinh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế; việc tuyển dụng mới tối đa không quá 50% số biên chế đã thực hiện tinh giản và 50% số biên chế giải quyết chế độ nghỉ hưu đúng tuổi hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật [3]. Đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra dư thừa đối với đội ngũ sinh viên mới ra trường nói chung và sinh viên ngành tài chính - ngân hàng nói riêng.

Gần đây, bối cảnh kinh tế thế giới đang dần hồi phục, kinh tế Việt Nam đã có những “điểm sáng”, đáng chú ý nhất là tín hiệu tích cực từ tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2015 cao nhất kể từ năm 2008. Nắm bắt xu hướng và nhu cầu xã hội, các trường đại học và học viện đã tăng dần chỉ tiêu tuyển sinh ngành tài chính-ngân hàng, như: Học viện Ngân hàng, giai đoạn 2010 - 2015 tuyển sinh ngành tài chính-ngân hàng từ 1.300-1.400 người, năm 2016 đã tăng lên 1.600 người; Học viện Tài chính, giai đoạn 2010-2013 tuyển sinh ngành tài chính - ngân hàng từ 1.600-1.800 người, năm 2014-2015 là 2.000 người và năm 2016 là 1.900 người [13]… Cơ hội việc làm trong ngành tài chính, ngân hàng cũng mở ra. Các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, nhất là lĩnh vực thuế, hải quan, chứng khoán, bảo hiểm, thanh tra, kiểm toán, thẩm định giá; đặc biệt sắp tới thị trường vốn ở Việt Nam sẽ phát triển rất mạnh, cần có nguồn nhân lực đạt chuẩn, có kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế để xây dựng nền tài chính tiền tệ lành mạnh, đủ sức cạnh tranh với khu vực và thế giới. Ngành ngân hàng cũng mở rộng cơ cấu, hàng loạt chi nhánh, phòng giao dịch được thành lập rộng khắp cả nước và trong vòng 5-7 năm tới, đội ngũ các nhà quản lý, cán bộ, công chức, viên chức, chuyên viên, nhân viên ngành tài chính-ngân hàng thế hệ 6X tới tuổi nghỉ hưu... sẽ phát sinh nhu cầu nhân lực hiện tại cũng như trong tương lai.

Điển hình, trong năm 2015, VietinBank dẫn đầu với mục tiêu tuyển hơn 1.100 nhân sự; Vietcombank tuyển thêm 750 nhân sự cho các chi nhánh, phòng giao dịch; một số ngân hàng nước ngoài như Sumimtomo Mitsui, CitiBank, Indovina Bank … cũng bắt đầu mở rộng tuyển dụng nhân viên cho khối bán lẻ và phát triển các dịch vụ tài chính tiêu dùng [11]. Tuy quy mô tuyển dụng chưa lớn, nhưng đây là những cơ hội việc làm cho những ứng cử viên ngành tài chính-ngân hàng có kiến thức, kỹ năng, năng lực tư duy, đam mê công việc, có tinh thần trách nhiệm và khả năng xử lý nhanh nhạy các tình huống phát sinh trong chuyên môn, nghiệp vụ.

Giải pháp nâng cao nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng

Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi đề cập đến hai nhóm giải pháp nhằm nâng cao nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng: nhóm giải pháp đối với nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng hiện tại và nhóm giải pháp đối với nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng tương lai.

Về giải pháp đối với nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng hiện tại

Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước ngoài việc quản lý nhà nước đối với toàn ngành, đang quản lý song trùng hai học viện, một số trường đại học, cao đẳng và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của ngành, có vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành. Để thực hiện tốt vai trò này, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước cần tiến hành:

 Thứ nhất, xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trung và dài hạn trên cơ sở Quy hoạch phát triển nhân lực của ngành đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Thứ hai, hàng năm rà soát, đánh giá trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công chức, viên chức, chuyên viên, nhân viên của cơ quan, đơn vị, tổ chức mình. Trên cơ sở rà soát, phân tích, xác định nhu cầu để kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cụ thể, phù hợp với từng đối tượng, chức danh, vị trí làm việc. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cần gắn với đặc thù văn hóa, nhận thức và yêu cầu đổi mới của ngành, yêu cầu hội nhập quốc tế trong bối cảnh kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Thứ ba, nghiên cứu, ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng theo lĩnh vực, vị trí công tác tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức ngành tài chính-ngân hàng; trong đó quy định cụ thể thời gian đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc hàng năm; thời gian cập nhật kiến thức, nghiệp vụ... đối với từng loại công chức, viên chức, chuyên viên, nhân viên ngành tài chính-ngân hàng.

Thứ tư,cơ chế v trách nhiệm và quyền lợi rõ ràng trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức, thỉnh giảng từ đội ngũ chuyên gia/cán bộ giỏi trong ngành tham gia đào tạo (chính khóa và ngoại khóa) cho các đại học/học viện/trung tâm/cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của ngành. Đối với đội ngũ giảng viên và quản lý, ngoài việc đào tạo chuẩn hóa theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cần đào tạo năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên. Năng lực tư duy lý luận sẽ giúp cho đội ngũ giảng viên nhận thức thấu đáo tri thức khoa học chuyên ngành và các khoa học khác; giúp cho họ có phương pháp nghiên cứu, tìm tòi, tích lũy tri thức và giải đáp thấu đáo những vấn đề thực tiễn đặt ra một cách kịp thời, chính xác, bổ sung và phát triển lý luận… đưa công tác giảng dạy ngày một chất lượng và hiệu quả.

Thứ năm, đầu tư phát triển các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong ngành tài chính, ngân hàng. Các trung tâm nên đặt tại học viện của ngành, được đầu tư kinh phí, tập trung các chuyên gia cao cấp để triển khai nghiên cứu khoa học, đưa công nghệ mới vào ứng dụng trong từng lĩnh vực, ngành cụ thể. Sẽ có tác dụng giảm thiểu việc lãng phí nguồn nhân lực, tạo nhiều hiệu ứng như tăng tính hiệu quả của từng cá nhân chuyên gia qua quá trình cùng nghiên cứu và làm việc nhóm, góp phần chủ động trong đào tạo đội ngũ chuyên gia kế cận.

Thứ sáu, gắn kết công tác đào tạo, bồi dưỡng với công tác kiểm tra, tổng kết, để các bộ, công chức, viên chức, chuyên viên, nhân viên trong ngành thực sự mang lại lợi ích cho ngành sau khi tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng.

Thứ bảy, xây dựng và chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc quyền quản lý xây dựng hệ thống quản trị nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng chế độ đãi ngộ tương xứng để người lao động gắn bó với ngành, nhất là chế độ đãi ngộ, lương, thưởng cao để thu hút, “chiêu tài” và “giữ chân” được đội ngũ cán bộ, chuyên gia giỏi có kinh nghiệm và năng lực làm việc tại ngành.

Thứ tám, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho các cơ sở đạo tạo, bồi dưỡng trong ngành tài chính, ngân hàng; chính sách ưu đãi đối với các cơ sở giáo dục đào tạo và đội ngũ giảng viên. Xây dựng cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tham gia và hỗ trợ các trường đào tạo, nghiên cứu khoa học. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về đào tạo nhân lực, qua đó tranh thủ tối đa sự hỗ trợ về tài chính, chương trình, nội dung đào tạo, giảng viên và phương pháp giảng dạy.

Cùng với các giải pháp trên, các cơ sở/trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của ngành tài chính, ngân hàng xây dựng lại khung chương trình giảng dạy, biên soạn tài liệu đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với lĩnh vực, công việc, chức trách, nhiệm vụ của từng đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng; bảo đảm sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn. Chú trọng việc đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức, chuyên viên quản lý cấp trung và cấp cao nhằm tạo sự đột phá về tư duy và kỹ năng quản lý, tạo tiền đề cho việc triển khai các kế hoạch cải cách và chấp nhận sự thay đổi ở các cấp điều hành và cấp thực hiện. Đa dạng hóa phương thức đào tạo, bồi dưỡng, quan tâm thích đáng đến hình thức đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến hay đào tạo từ xa nhằm đáp ứng được điều kiện làm việc, nhu cầu đa dạng của người học về kiến thức, về không gian, thời gian.

Bản thân công chức, viên chức, chuyên viên, nhân viên đang làm việc trong ngành tài chính - ngân hàng cần thay đổi trong nhận thức, thái độ và trách nhiệm tự học tập và tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng của ngành. Để làm được điều này, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và chế độ đãi ngộ gắn với quyền lợi và nghĩa vụ đối với từng nhân lực.

Về giải pháp đối với nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng tương lai

Như phân tích ở trên, hiện có trên 55% trường đại học, học viện đào tạo chuyên ngành tài chính - ngân hàng; điểm xét tuyển vào ngành này giữa trường đại học có điểm cao nhất với trường đại học có điểm thấp nhất chênh lệch khá cao (Hình 1), như: năm 2014 chênh lệch 7 điểm (điểm sàn xét tuyển đại học là 13); năm 2015 chênh lệch 10,25 điểm (điểm sàn xét tuyển đại học là 15); năm 2016 chênh lệch 9,03 điểm (điểm sàn xét tuyển đại học là 15). Số sinh viên ngành tài chính - ngân hàng ra trường năm 2015 chưa có việc làm là 12.000/29.000 người (chiếm tỷ lệ 41,38 %). Việc đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành tài chính-ngân hàng thời gian qua còn thấp hay số lượng sinh viên ngành tài chính-ngân hàng ra trường thất nghiệp hiện nằm trong top trường đại học nào?. Để giải bài toán này, chúng tôi có một số đề xuất với Bộ Giáo dục và Đào tạo; các trường đại học, học viện đào tạo ngành tài chính-ngân hàng như sau

Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo:

- Rà soát, kiểm định điều kiện mở ngành đào tạo, chất lượng đầu vào, chương trình đào tạo, chất lượng đầu ra của các trường đại học đào tạo ngành tài chính-ngân hàng. Thống kê, phân tích thực trạng quá trình đạo tạo, kết quả và cơ hội tuyển dụng đối với sinh viên sau khi ra trường... xếp hạng các trường đại học, học viện và công bố công khai để xã hội biết và giám sát. Đối với các trường không đủ điều kiện đào tạo ngành tài chính-ngân hàng thì đình chỉ ngay việc tuyển sinh.   

- Cho phép các trường đại học/học viện quyền tự chủ cao trong đào tạo: tự chủ về chỉ tiêu tuyển sinh theo đúng tiêu chí qui định; tự chủ về chương trình đào tạo, quản lý tài chính; nhất là quyền tự chủ trong việc tuyển chọn, bổ sung đội ngũ giảng viên theo cơ chế hợp đồng dài hạnkhuyến khích việc mời các chuyên gia có kinh nghiệm từ nước ngoài về tham gia giảng dạy tại trường. Tăng cường kiểm soát, kiểm tra mọi hoạt động tự chủ theo cơ chế qui định, phải coi đào tạo nguồn nhân lực theo đơn đặt hàng của xã hội là thước đo hiệu quả của mỗi trường.

- Có cơ chế và khuyến khích các cơ quan, đơn vị, tổ chức lĩnh vực tình chính, ngân hàng hàng năm căn cứ vào nhu cầu tuyển dụng đặt hàng các trường đại học/học viện đào tạo về nội dung, chất lượng, số lượng và cung cấp kinh phí hoặc huy động kinh phí đóng góp từ sinh viên được lựa chọn, để khi ra trường đạt tiêu chuẩn và đáp ứng được những vị trí cần tuyển chọn. Kết hợp tổ chức đánh giá chất lượng đầu ra (theo yêu cầu “đơn đặt hàng”), đây là trong những điều kiện thúc đẩy sự nỗ lực của các trường đại học/học viện trong hệ thống.

Đối với các trường đại học, học viện đào tạo ngành tài chính-ngân hàng:

- Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các bộ phận chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành tài chính, ngành ngân hàng xác định chính xác dự báo cung cầu lao động nhằm đưa dự báo đào tạo sát với nhu cầu thực tế, không chạy theo số lượng. Chú trọng xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh thông qua đơn đặt hàng của các Bộ đối với trường hoặc giữa trường và doanh nghiệp.

- Xác định thế mạnh của trường, tham khảo chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy của các trường hàng đầu thế giới về tài chính-ngân hàng để xây dựng khung chương trình đào tạo chung, khung đào tạo riêng đối với từng lĩnh vực, vị trí phù hợp hơn với thực tế và nhu cầu xã hội.

- Quy hoạch lại đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học và cán bộ quản lý đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hoá về trình độ đào tạo, có phẩm chất chính trị, đạo đức. Quan tâm phát triển đội ngũ giảng viên trẻ, thực sự là những người có năng lực giảng dạy và nghiên cứu, làm chủ kiến thức và sử dụng thành thạo các phương tiện phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.

- Coi trọng tính chuyên nghiệp trong giảng dạy, tôn trọng quy trình giảng dạy về chất lượng một cách tự giác; cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giảng viên phấn đấu nâng cao trình độ có học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ, chức danh Giáo sư, Phó giáo sư; ưu tiên đối với đội ngũ giáo viên trẻ được đào tạo sau đại học ở nước ngoài; thường xuyên trau dồi về nghiệp vụ sư phạm, gắn hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học với thực tế hoạt động của ngành. Nghiêm túc đánh giá, phân loại cán bộ, giảng viên hàng năm trên cơ sở các tiêu chí đánh giá phân loại một cách cụ thể cho từng đối tượng.

- Cấu trúc lại môn học phù hợp theo mã ngành, chuẩn đầu ra của từng ngành học. Ðảm bảo tính chuẩn mực giữa các môn cơ sở, môn bổ trợ và môn chuyên ngành, hạn chế sự trùng lắp giữa các môn học. Bổ sung các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thực hành, năng lực ngoại ngữ, tin học, khả năng tư duy sáng tạo, tính độc lập trong giải quyết vấn đề mới nẩy sinh, kiến thức tổng hợp… làm nền tảng cho sinh viên khi ra trường nếu được tuyển dụng có thể đảm nhận được ngay công việc theo nhu cầu của nhà tuyển dụng.

            - Tạo môi trường học tập và nghiên cứu lành mạnh cho sinh viên, thực sự coi sinh viên là trung tâm của nhà trường; giáo dục toàn diện ý thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và văn hoá, chủ động phòng chống các tệ nạn xã hội. Bồi dưỡng đội ngũ sinh viên khá giỏi, lựa chọn đội tuyển tham gia các kỳ thi do Bộ Giáo dục và Ðào tạo tổ chức. Đẩy mạnh phong trào hoạt động văn thể trong sinh viên và vai trò của Ðoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, đội Thanh niên tình nguyện trong nhà trường sôi nổi, đoàn kết, tạo ra động lực và sự say mê trong học tập.

- Nhà trường, Khoa ngành tài chính-ngân hàng nên thường xuyên tổ chức hiệu quả các buổi tọa đàm, hội thảo, sinh hoạt khoa học, giao lưu với các tổ chức tài chính-ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp tạo điều kiện cho sinh viên ngành tài chính-ngân hàng được tiếp cận, tìm hiểu, cọ sát với tình hình thực tiễn.

- Tiếp tục mở rộng liên kết và hợp tác với các trường đại học, đặc biệt là các trường đại học danh tiếng trên thế giới để đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành tài chính-ngân hàng từ đó đào tạo ra được nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao cho ngành tài chính, ngân hàng.

- Nâng cao hiệu quả chương trình thực tập của sinh viên. Hiện nay, nhiều trường đại học sinh viên phải tự mình tìm nơi thực tập, nếu sinh viên không tìm được nhà trường hoặc khoa sẽ liên hệ và giới thiệu đơn vị thực tập. Để tìm được đơn vị thực tập đúng chuyên ngành rất khó, nhất là với những sinh viên học ngành tài chính - ngân hàng. Mặt khác, ít các cơ quan, đơn vị, tổ chức cho sinh viên thực tập được trực tiếp làm việc hay chỉ dạy tận tình; vì vậy, việc thực tập tốt nghiệp của sinh viên chưa thật sự hiệu quả, đúng vai trò của nó… Để chương trình thực tập của sinh viên thiết thực, bảo đảm đúng yêu cầu, các trường đại học, học viện cần: (i) Đầu tư, xây dựng các phòng thực hành, mô hình thực hành như ngân hàng mô phỏng, công ty mô phỏng và chứng khoán mô phỏng với việc đào tạo thực tế để sinh viên có điều kiện thao tác, trải nghiệm những chức danh nghề cốt lõi tương ứng các vị trí tại ngân hàng, công ty và sàn giao dịch chứng khoán…; (ii)  Có bộ phận chuyên trách tổ chức các chương trình thực tập, phối hợp với các đơn vị hướng dẫn sinh viên thực tập, thường xuyên kiểm tra và đánh giá quá trình thực tập của sinh viên; (iii) Tăng thời gian thực tập tốt nghiệp từ 8 tuần đến 12 tuần, để sinh viên có thời gian được đào tạo, rèn luyện, học tập thực tế, tiếp thu được những kiến thức và kỹ năng hữu ích để lập nghiệp sau khi ra trường…

Tuy nhiên, để triển khai được nội dung này, cần có sự ủng hộ về cơ chế, hỗ trợ về kinh phí và sự quan tâm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức ngành tài chính, ngân hàng coi việc tiếp nhận sinh viên về thực tập tại cơ quan, đơn vị mình là một nhiệm vụ và cử người có năng lực hướng dẫn tận tình chu đáo để mỗi sinh viên khi thực tập tốt nghiệp như một người lao động thực thụ trong đơn vị. Đồng thời, bản thân mỗi sinh viên cần xác định rõ mục tiêu, động cơ học tập, thái độ học tập để tự giác học tập, không được gian dối trong thi cử, có ý thức tự học ở nhà, ở trường và ở mọi lúc, mọi nơi.

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, khi mà sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt không chỉ trong một nước mà trên toàn thế giới, thì nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi hoạt động của nền kinh tế, cũng như các lĩnh vực khác, kể cả lĩnh vực hoạt động về tài chính-ngân hàng, nơi mà sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt. Để tạo được lợi thế cạnh tranh chính là đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đi đôi với cấu trúc lại nền kinh tế. Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực nói chung cũng như nguồn nhân lực ngành tài chính-ngân hàng là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Hy vọng rằng, với những đề xuất trên sẽ đóng góp được một phần tích cực trong trách nhiệm chung này./.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 219/QĐ-NHNN ngày 09/02/2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Ngân hàng giai đoạn 2011-2020”.

2. Quyết định số 2123/QĐ-BTC ngày 27/8/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Tài chính giai đoạn 2011- 2020”.

3. Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế

4. “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành ngân hàng Việt Nam”, PGS. TS Nguyễn Thị Mùi

          5. “Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng”, ThS.Nguyễn Thuần Vân.

6. “Biến động nhân lực ngành ngân hàng tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp”, Ths. Nguyễn Tuấn Anh và Ths. Nguyễn Văn Thọ

7. “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với việc thực hiện chiến lược tái cơ cấu Ngân hàng Việt Nam”, PGS.TS. Nguyễn Đăng Bằng

8. “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2010-2020”, NGƯT, PGS, TS. Tô Ngọc Hưng; ThS. Nguyễn Đức Trung

9. Kỷ yếu hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực ngành ngân hàng, tài chính” Viện nhân lực Ngân hàng tài chính phối hợp với trung nhân lực quốc tế tổ chức ngày 10/10/2010 tại Hà Nội

10. http://dantri.com.vn/viec lam/nhan luc nganh ngan hang lo hong giua dao tao va thuc te

11. http://tuoitrethudo.vn/nhip song tre/tin chi tiet/chi tiet/bai 49: can thay doi cach thuc dao tao nhan luc nganh tai chinh ngan hang

            12. http://dantri.com.vn/tin tuyen sinh/tan cu nhan nganh tai chinh ngan hang that nghiep nhung ngan hang van dang khat nhan luc

            13. http://diemthi.tuyensinh247.com

TS Hà Thị Hương Lan hiện đang là giảng viên giảng dạy tại Trường Bồi dưỡng cán bộ tài chính, Bộ Tài chính. Tiến sỹ đã có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy về các kỹ năng, kiến thức về tài chính và công chức ngành tài chính.
(Tiêu đề và lời tựa do người đăng đặt)
 
Tác giả: TS Hà Thị Hương Lan